Thứ Bảy, 17 tháng 6, 2017

HOÀI NIỆM VỀ LỚP CÔNG THÔN – NÔNG LÂM SÚC HUẾ 1971-1974

Trường Nông Lâm Súc Huế từ không ảnh 1965
        THI TUYỂN VÀO LỚP CÔNG THÔN, NLS HUẾ     
    Thật tình cờ, khi mình đã ngoài 60 tuổi, bỗng dưng muốn nhớ nhiều về chuyện cũ. Qua những lần tình cờ gặp gỡ bạn bè xưa, mỗi lần một số bạn, cuộc đời học trò NLS áo nâu như hiện về rõ ràng, mạch lạc trong ký ức. Nên mình chỉ muốn viết ra để chia sẻ một vài cảm xúc của thời thanh niên đi học. Một thời tuổi trẻ lứa tuổi bọn mình sinh ra gặp lúc đất nước, quê hương mình xẩy ra nhiều biến động, những tao loạn của chiến tranh nghiệt ngã, đến khi hoà bình lại còn di chứng nhiều tổn thương, mất mát, rồi lức lập thân, lập nghiệp, lập gia đình... với nhiều gian truân, trắc trở. Ôi! Giá như bọn mình sinh ra ở một thời đại khác, một miền đất khác, hay ở một xứ sở khác? Thì còn có gì để nói với nhau đây? Lấy gì mà kể cho con cháu nghe “như là chuyện cổ tích” tưởng như không hề có thật trong cuộc đời cho các con, các cháu nghe đây? Mong các bạn châm chước cho những lời vụn vặt, những chi tiết có khi lẫn lộn của mình...
Năm 1967, từ một cậu bé Tiểu học trường làng, do chiến tranh, làng An Thuận kề làng Hương Cần xẩy ra chiến cuộc, cả nhà mình phải tản cư lên Huế, gia đình dựng một căn nhà tạm lợp tôn trên khu đất thuê sau lưng Đại Nội, Huế. Cho nên mình phải nộp đơn vào thi lớp Đệ Thất trường Trung học Hàm Nghi. Qua 4 năm lằng nhằng học ở Trung học Hàm Nghi Huế, mình chỉ xếp học lực xuềnh xoàng. Môn học khá nhất lại là ...môn Hoạ, Âm nhạc, Anh văn...Thế rồi đùng một cái, đến năm lớp đệ Tứ (sau đó đổi là lớp 9), mình có ông bác là thầy Hoàng Trọng Kẩm dạy trường NLS ông tư vấn cho ba mình: " chú nên cho con vào học NLS để có nhiều điều lợi: Thứ nhất miễn quân dịch 2 năm(sau Mùa Hè đỏ lửa 1972 chỉ còn được miễn 1 năm vì luật đôn quân). Thứ hai là ngành nghề phù hợp nghề nông (của ba mình). Thứ ba là trong NLS cũng có nhiều ngành, như ngành Công thôn là ngành mới đào tạo học sinh học Toán như ban B ngoài (9 tiết/tuần) được cấp bằng tú tài dựa trên kết quả học tập của 2 kỳ  “đệ nhất lục cá nguyệt” và “đệ nhị lục cá nguyệt” của lớp 12, chứ không phải thi tú tài như trường Trung học phổ thông". Vậy là quá Ok, ba mình bèn rút hồ sơ nộp cho mình thi vào học lớp 10 ban Công thôn, trường NLS Huế. Đó là bước ngoặc thứ 2 trong đoạn đường học tập và cũng như sau này trong cuộc sống, công việc của mình....
Thăm lại trường xưa, cảnh lớp học không thay đổi mấy.

Bỡ ngỡ khi vào lớp 10 công thôn trường NLS, mọi thứ được học ở đây đều khác với trường Trung học đệ nhị cấp ở ngoài phổ thông. Tuần học 6 buổi Văn hoá, rất nặng là đằng khác: Toán # ban B và Trung học Kỹ thuật ban Toán: Tuần 9 tiết, hình như nhiều hơn ngoài ban B. Cũng học Lý, Hoá, Vạn Vật, Văn Triết, Công Dân, Sử Địa, Anh văn, có cả Sinh ngữ 2 là môn Pháp Văn..., 1 buổi thực hành Nông Xưởng, cộng cả tuần > 32 tiết. Ngoài ra còn phải học đủ căn bản các môn Nông học, Lâm học, Mục Súc của trường Nông Lâm Súc. Đặc biệt nhất là môn Công thôn (Rural enginering), sau này mình mới biết đây là môn mới mở trong trường NLS theo định hướng Công nghiệp hoá Nông thôn chuẩn bị đưa trí thức trẻ về nông thôn để xây dựng nông thôn thời hậu chiến (Miền Nam đang thương thuyết hoà bình theo hiệp định Paris từ 1968). Chương trình do Đại học Havard của Mỹ tài trợ để tuyển chọn sinh viên cho trường Đại Học Cộng Đồng Thủ Đức (sau này là trường SP kỹ thuật Thủ Đức). Ôi! Một chiến lược phát triển nhân lực kỹ thuật và cơ khí rất tốt như vậy cho thời kỳ xây dựng lại quê hương khichiến tranh chấm dứt như vậy đã tan theo mây khói cùng với sự thay đổi của chiến tranh và kết quả của chiến cuộc....

    KỶ NIỆM CHUYẾN ĐI TUÝ VÂN
            Từ Trung học Hàm Nghi vào trường NLS Huế cùng lớp 10 công thôn với mình còn có nhiều bạn nữa như Nguyễn Hữu Thân (Thân pê đê), Nguyễn Đức Thành, Võ Quang Trí....Lớp 10 năm học 1971-1972 có đến 56 bạn. Sau chiến cuộc “Mùa Hè đỏ lửa” tháng 4 /1972. Luật đôn quân có hiệu lực, chỉa cho hoãn dịch lý do học vấn cho học sinh trường Trung học chuyên nghiệp là 1 năm. Nên các bạn sinh 1955 còn học đươc, sinh từ 1954 nếu không có hoãn dịch vì lý do gia cảnh thì buộc phải đi lính. Với năng lực học ban Công thôn “cày Toán Lý Hoá như trâu điên” nên nhiều bạn sinh 1954 ra ngoài nộp đơn thi Tú tài I (lớp 11) đỗ rồi đi thi vào trường Trung học SP Huế (thi băng 1 lớp + được hoãn dịch 1 tuổi) vậy là ổn như bạn Tất, bạn Tình...Có bạn có bằng Tú tài I xong vào trường SQ Thủ Đức như Lê Nổi, Nguyễn đình Phi....Còn lại đến năm 11, 12 sĩ số trong lớp cuối cùng chỉ còn 34 bạn. Vậy là cuối đệ nhị cấp lớp giảm đi 22/56 bạn, một sự hối tiếc không hề nhỏ. Đến mùa Hè 1974, 100% các bạn có học đạt TB cả 2 lục cá nguyệt năm lớp 12 đều được cấp bằng Tú tài phần thứ 2 NLS, tương đương với bàng tú tài toàn phần. Vì tú tài NLS chỉ xét theo học lực nên nhiều bạn còn nộp đơn thi tú tài 2 ngoài phổ thông, năm 1974 áp dụng thi tú tài theo kiểu trắc nghiệm do máy tính IBM của Hoa Kỳ chấm ở Sài Gòn, nên thí sinh nào thi tú tài năm đó đều được gọi là thi Tú tài IBM, và chỉ một lần duy nhất ở Việt Nam, hình thức thi trắc nghiệm độc nhất vô nhị trước 1975. Sau này, làm giáo viên trong ngành giáo dục từ 1978 đến 2016, tôi mấy thấy ngành GD mới tổ chức thi trắc nghiệm từ 2010, và thi 75% trắc nghiệm chỉ mới năm nay (2017), mới thấy phải mất 43 năm sau ngành giáo dục ta mới cải tiến thi cử theo lối Trắc nghiệm của Miền Nam trước 75. Ôi! Một sự  tiến bộ..lùi khá thú vị! Kể cả Sử, Địa, Vạn vật, Triết. Lý , Hoá, Anh văn...người ta đã làm trắc nghiệm trước “ta” 43 năm rồi kìa! Mà nhân tài đâu có thiếu?
Sân trường 1971- Có con ngựa đang gặm cỏ.
       Năm 1974, các bạn 12 ban Công thôn làm lễ tốt nghiệp thật hoành tráng. Nhiều tay tổ trong tổ chức lớp như Nguyễn Phi Khứ, Nguyễn Văn Nhìn, Trần Công Thuận đúng là sau này đều làm thầy giáo tốt, uy tín...Lễ chia tay diễn ra trong phòng học đôi dãy E2, có món ăn, uống...rượu nếp pha đá. Có dàn nhạc Rock của lớp hình như Hoàng Trung lead Guitar, Trần Công Thuận Guitar bass, Trần Phương(?) hay Hồ Ngọc Đủ(?) chơi trống Jazz... chưa có lớp nào 12 Nông Lâm Súc Huế khoá đó được như vậy. Sau đó là chuyến đi dã ngoại Về thăm Tuý Vân- Hàm Rồng, do gia đình bạn Nguyễn Phan Văn Thăng ( cùng anh là Nguyễn Phan Văn Thắng học CT trước mình 1 lớp) đăng cai. Khoảng 16 hay 17 bạn lên xe lửa Huế- Đà Nẵng về ga Đá bạc đổ bộ xuống bến đò Đá Bạc. Đây là lần đầu tiên trong đời mình đi xe lửa, cảm giác thật khó tả, chỉ sợ...tàu bị...nổ mìn!!! Đi đò ngang vượt Phá Tam Giang, nên nhớ lúc đó là đò máy chạy động cơ Diezel Yanmar F10 của Nhật, cái máy mà ở nhà quê mình dùng để kéo dàn máy xay và giã gạo liên hợp. 
       Quả thật, lúc đó 1974, trình độ cơ giới hoá của nông thôn Miền Nam là rất cao, bạn hãy nghĩ là lúc này Hàn Quốc vẫn còn ...cuốc ruộng, còn Miền Nam đã có máy kéo Kubota L200, L2000, máy cày tay Kubota, Yanmar.... xới đất đàng hoàng. Nhớ sau 1975, trong giảng đường trường Đại Học, nhiều vị giảng viên ta đã đem chuyện “Điện khí hoá nông thôn” ở quê mình (của ba mình làm chạy điện cho 3 xóm chợ, cho cả thôn coi Ti Vi World cup Munich 1974 trên Ti Vi 14 inchs..) làm minh hoạ. Ổng cho rằng ...điện khí hoá nông thôn Miền Nam là...nhỏ lẽ, nền kinh tế văn minh là... giả tạo, chỉ phục vụ 1 ít tư sản vân vân và v.v...Ổng không ngờ thằng SV vận hành lưới điện nhỏ đó, thắp sáng cái ước mơ và đã nếm cái văn minh cho mấy xóm nhỏ ở Huế đó...chính là mình! Thằng học sinh lớp 10 công thôn đã được đi xe Honda 67 (SS50) vừa đi học, vừa đi làm cơ khí máy cày (2 chiếc cày tay) 1 chiếc Kubota 4 bánh 20CV l200, vận hành 2 máy xay giã gạo liên hợp Yanmar F10....Điều này sau đó đã bị lụi tàn, phải đến 1990 sau khi mình đi dạy 10 năm về và sau gần 20 năm mới nhập máy cày tay Đông Pheng của Trung Quốc về làm lại từ đầu...

Bên sườn đồi Quy Sơn- Biển Hàm Rồng, Tuý Vân
        Chuyến đi dã ngoại về Tuý Vân của lớp 12 Công thôn Hè năm 1974 thật là một chuyến đi đầy ấn tượng. Sau khi đặt chân lên bến đò làng Hiền Vân, Vinh Hiền, cả bọn kéo nhau đi bộ lên thăm chùa Tuý Vân (chùa Thánh Duyên). Cắm trại trong rừng, đốt lửa trại, ca hát, nướng sò trìa trên than hồng lửa trại, miệng trìa vừa mở ra, lập tức vắt tí chanh vào, thêm nhúm muối tiêu, và thế là húp vào miệng...Ui chao! Cảm giác thật khó tả. Bọn mình gồm Huỳnh Trân và mình ôm 2 cây đàn Mandolin, Thuận cao đàn Guitar, kèn Harmonica,v.v...Xập xình trong đêm lửa trại ở lại rừng Tuý Vân như vẫn còn vang vọng mãi đâu đây. Sáng mai sau khi ngủ đêm trong sảnh đại điện chùa, cả bọn hành quân quanh núi Quy Sơn, ra tắm biển Hàm Rồng. Biển Hàm Rồng thật là nguyên sơ như chưa hề có vết chân người. Bây giờ, có nhiều người mua tour "Du lịch sinh thái" chắc không đạt được những cảm xúc như bọn Thân hữu lớp Công thôn 1974 của mình xưa kia đâu. Chụp rất nhiều hình, là học sinh mà bạn nào cũng có máy ảnh Canon, Nikon, Minesotta, Kodak...chụp rất nhiều ảnh...Trên bãi cát, ngoài gộp đá, lựa lúc sóng to đập vào vách đá tung bọt trắng xoá để tạo background (hình nền) thật tuyệt vời (tui mượn cái kính râm pilot của bạn Hoàng Trung tạo dáng thật chuẩn đó nghen!)...Buổi cơm trưa nhà bạn Thăng cả 2 anh chị của bạn gánh 2 gánh cơm nhà cho các bạn: Nào là cơm thịt heo, dưa giá, canh mực với thơm... ngạt ngào...Thật là bữa cơm ấm áp tình cảm khó phai mờ...Xế chiều lại tắm biển, vớt rau câu, bắt cua đá, bắt còng....vui thật là vui. Tối về lại ăn liên hoan cơm tối với gia đình bạn Thăng, Thắng...Đi uống cà phê chợ, nhớ là có gặp anh rể của bạn Ý làm ở quận Vinh Lộc đi xe Jeep đến thăm.... Ngày mai lại, cả bọn đi đò dọc ngược Phá Tam Giang, Sông Hương về Huế. Qua khỏi cửa Thuận An, đến Diêm Trường thì bị một chiếc Giang Thuyền HQ chặn lại xét giấy tờ rồi cho đi... Nếu kể chuyện này vào thời nay thì không có gì lạ, nhưng ngược thời gian trở về quá khứ 43 năm về trước, trong hoàn cảnh có chiến tranh, 16 chàng thanh niên đi chơi xa như vậy thật hiếm có. Nào là nạn nổ mìn xe, đò, đạn lạc, sợ bị bắt cóc vô rừng, lúc nào cũng kè kè "lược giải cá nhân", thẻ "căn cước" với thẻ "động viên tại chỗ" (hoãn dịch) thì khó ai đi được. Sự vắng mặt của nhiều bạn cũng chắc vì lý do đó...
Biển Hàm Rồng - Vinh Hiền ngày nay vẫn còn hoang sơ

P3/ HỌC SINH CÔNG THÔN HỌC GÌ? CÔNG XƯỞNG HAY NÔNG XƯỞNG?
         Nói về sự học trong trường Trung học Nông Lâm Súc Huế có nhiều điều cần hoài niệm: Trong các ngành Nông Học, Lâm Học và Mục Súc thì đã rõ ràng rồi. Vậy ngành Công Thôn là ngành gì? Đào tạo ra sao? Nguồn nhân lực đi đâu? Đây vốn là câu hỏi mà nhiều người gọi là"chuyên gia giáo dục" thời nay, chưa ai dụng tâm tìm hiểu để học được cái hay cái được của nền giáo dục VNCH trước 1975. Nền giáo dục khai phóng, theo mô hình các quốc gia tân tiến mà chúng ta đã bỏ lỡ cái duyên kế nghiệp...
Máy kéo bánh xích cổ.

          Năm học 1971-1972, khoảng đầu năm 1972, cùng với kỹ thuật in Ronéo phát triển. Trường NLS Huế có nhà thơ học sinh là Trần Hữu Nghiễm, làm thơ và in thơ rồi đi bán khắp các trường từ NLS, Kỹ Thuật, đến Thành Nội, Hàm Nghi, Quốc Học, Gia Hội, Nguyễn Tri Phương, BC Hưng Đạo, Bồ Đề. La san v.v...Rồi các tập "ca khúc da vàng", ca khúc phản chiến "Hát cho dân tôi nghe" của Trinh Công Sơn, Tôn Thất Lập, La Hữu Vang....được in ấn dễ dàng và phát tán trong thanh thiếu niên. Lớp 10 công thôn cũng biên tập bài vở để in trong 1 đặc san khổ 18x23, tên là “ĐỊNH HƯỚNG” do Lớp 10 Công Thôn thực hiện. Thật là một đặc san thú vị đong chứa nhiều kỷ niệm tuổi học trò. Sau 30/4/1975 để đối phó với chiến dich “bài trừ văn hoá đồi truỵ” của ta, nên đành đốt mất thật uổng. Không biết bạn nào lớp 10 CT năm 1971-1972 có còn không? Được cho lớp đấu giá làm “bảo vât” của lớp thì quá hay. Phần trình bày bằng bút kim vẽ trên giấy can để in Roneo, tôi nhớ bạn Nguyễn Trình (bây giờ là Nguyễn Tiến Trình) có sáng tác bản nhạc “Đường về Nông Xưởng” không nhớ giai điệu có hay ho gì không, chứ hình thức kẻ nhạc thì ok đẹp lắm... 
         Nhắc đến Nông Xưởng, dân Công Thôn nào mà không biết, không đổ mồ hôi, sôi nước mắt, đứt tay chảy máu vì nó? Nông xưởng là ngôi nhà lợp ngói to đùng, nằm sau khu vườn ươm và khu chăn nuôi. Nhớ thầy Hồ Đăng Lễ, kỹ sư công chánh, trưởng Ty công chánh tỉnh Thừa Thiên, dẫn cả lớp ra vẽ kiến trúc “Nhà nuôi heo” đủ cả 3 phối cảnh: Chính diện, Tả hữu diện và Bình đồ. Nhà nông xưởng rộng có dốc cho xe và máy kéo đi lên thoai thoải. Trong nền xi măng, có vì kèo gỗ rộng lắp ghép theo kỹ thuật tam giác ghép nối của Pháp. Sàn Nông xưởng rộng, có cái bục xi măng đầu hồi để diễn Văn nghệ. Có mấy cỗ máy cưa bào liên hợp chạy điện. Có bàn cưa ngang có thể định vị từ 0 – 180 độ. Máy mài 2 đá, có trục moteur lệch 0-90 độ để mài cạnh supap v.v...Ở góc xưởng có kho chứa máy móc, nông cụ. Cách đây hơn 45 năm mà đã có máy khoan điện cầm tay, khoan bàn, máy mày liên hợp, máy bơm thuốc trừ sâu...Nhớ mỗi lần vào học thực hành Nông xưởng, thầy Đặng Tẻo bắt học trò đổ nước vô đầy thùng máy phun thuốc trừ sâu, rồi giật dây máy nổ, lấy vòi phun ra...rửa con xe Honda 68 của thầy, mình cũng tranh thủ dắt xe 67 vô rửa ké. Phải 40 năm sau, những cỗ máy kiểu này mới xuất hiện ở Việt Nam. Nhớ giờ học Mộc của thầy Chương là sôi nổi nhất, nào cưa máy, cưa ngang, cưa lá liễu, bào sắt...Nhưng cái cưa lá của Mỹ nó to và nặng gì đâu, khi cùn cưa hoài không đứt, sau thầy cho dùng cưa ngang kiểu thợ mộc Việt Nam mới đạt. Cái bào công nghiệp có thể chỉnh được góc nghiêng của lưỡi 45-60 độ, có tay nắm trước và sau, lưỡi bào bằng thép Mỹ rất tốt. Tay Nguyễn Văn Nhìn lúc nào cũng chuyên mài lưỡi bào bằng máy mài supap nên bào hắn rất mịn và ngót. Bài tập ra sản phẩm từ Nông xưởng có rất nhiều, nhưng nhớ nhất và ấn tương nhất là sản phẩm gò “gàu xúc gạo”. Lúc đó mình chưa hề hình dung dung có một vật thể là gàu xúc gạo (chỉ biết có gàu tát nước thôi). Mãi sau này khi kinh tế gần đây phát triển xuất khẩu gạo nhiều lại mới thấy cái công cụ này. Đồ gỗ thì vẽ Kỹ thuật và gia công thực hành làm bộ salon gỗ, nguyên liệu là gỗ thông thùng đạn Mỹ, bằng mối ghép đinh và mộng ngàm, mỗi học sinh đã tự đóng 1 bộ ghế salon rất tiện dụng từ hồi còn học năm lớp.... 10. Hỏi rằng trong các ngành học phổ thông ngày nay có học sinh nào làm ra được vậy trong giờ thực hành không? Nhìn những trang thiết bị, rồi sản phẩm hồi đó đến sau này, trong 28 năm làm giáo viên dạy giáo dục nghề nghiệp và hướng nghiệp cho học sinh PT tôi chưa bao giờ thấy một mô hình nào được như vậy, và có lẽ sẽ còn lâu nữa mới được như vậy, tiếc thay! Trường NLS ngoài việc nổi tiếng có 2 con ngựa có “bugi dài chấm đất” hay ăn cỏ trong sân trường ra, con heo nái Yorsire khổng lồ trong trái giống ra thì còn có “chiếc xe tăng” là chiếc máy ủi 2 bánh xích của ban công thôn. Chiếc máy này từ lâu bị hỏng gì đó (chắc bị hỏng heo dầu bơm dầu không lên) sau đó thầy Tẻo sửa cho nó hoạt động, rồi sau đó thầy và trò chiều nào cũng ngồi lái “xe tăng” rùng rùng đi ngang đi dọc mấy đoạn đường sỏi đá trong trường. Không thể quên được cái cảm giác tay kéo cầm ambraya cho xe quẹo phải, quẹo trái...chiếu xe gầm rú khi nhấn ga và chồm giật lên mỗi lần nhả côn...ôi thôi, ngồi trên xe, thấy mấy em gái nữ các lớp Canh nông, Mục súc...đi thực hành về, sợ xe nấp nép khiến cho mấy anh áo nâu “Công thôn” nở mũi hiên ngang..haha...
        Dào dạt đôi giòng viết lại ký ức thuở nào một thời học sinh áo nâu nông nổi, rồi giận khi bị bọn HS gọi xách mé là “nông lâm heo” mà mình có phải “heo” mô? Mình là dân công thôn chính hiệu. Vì vậy mà có lúc thua trận đá banh với trường Nguyễn Tri Phương, chỉ cần có bọn chọc quê là lên xe tải, cùng anh em bên “Ruồi xanh” trường Kỹ thuật kéo ra đánh lộn, loạn xà ngầu... Ôi tuổi thiếu thời hoang dã ấy, mấy ai quên nhiều kỷ niệm?
                  - TNT56- Viết theo ký ức, đăng trang blog của Thân hữu cựu HS Công Thôn NLS Huế 71-74

Thứ Hai, 26 tháng 10, 2015

Tuổi thơ của Ba tôi


(Viết theo câu chuyện được ba kể lại khi uống trà buổi sớm...)

      Đến năm 2015, ba tôi đã được 80 tuổi rồi, cái tuổi mà “cổ lai hy” cũng khó mà nhắc nhiều đến những ký ức cách đây sáu bẩy mươi năm...
Sinh ra ở miền quê nghèo khó phía Bắc ngoại thành Huế, là làng Hương Cần Huế...chỉ cách hoàng thành Huế có 6km nhưng cách đây 65 năm là một cuộc sống xa cách như ngày và đêm, mặt trăng và mặt trời....
      Ông nội tôi sinh năm Bính Dần 1866 mà ba tôi sinh năm 1935, tức là khi cụ ông 69 tuổi mà có con áp út, con thứ 30 trong 31 người con ( cụ có 4 bà ). Thế thì cái khoảng cách cha con rất xa cách...Nhất là những năm cuối đời, những năm 1953 lúc cụ ông 87 tuổi thì ba tôi chỉ mới 18, giai đoạn trước khi có hiệp định đình chiến 1954 thật là một thời tao loạn chung quanh nội thành Huế.
       Chiến cuôc 9 năm 1946 đến 1954, Hương Cần là vùng “xôi đậu” của kháng chiến: đồn dân vệ, bảo an của Pháp đóng ở đình làng và chợ, chung quanh là hàng rào kẽm gai và bãi cỏ tranh phát quang ...chống du kích đánh đồn. Bên ngoài làng xóm cứ là bị cô lập, do dân quân Việt Minh kiểm soát. Cái thế đan xen kiểu “da beo” trong chiến trường Đông Dương 1946-1954...... khiến người ta sống ở làng quê xứ Huế thời đó cứ mà khốn khổ: “Bạc (tiền) Việt nam người thương kẻ ghét, bạc Đông dương người nhét kẻ thu”. Muốn đi Bao Vinh, đi Huế mua sắm hàng hóa phải lấy bạc Việt Nam (Việt Minh) đổi ra hàng hóa có thể trao đổi được. Sau đó mang hóa tệ này qua Huế đổi thành bạc Đông Dương để mua hàng đem về chợ bán. Thế là có cái cảnh nếu du kích soát có bạc Đông Dương các mẹ, các chị phải..thu dấu thôi....
         Những tháng cuối năm Tỵ, ở Huế có cơn lụt 1953 mưa lụt rất lớn, nghe nói là xiêu cả cầu Trường Tiền...Trước lụt 53 độ dăm ba ngày, vụ lúa trái ở Hương Cần đang vào thời kỳ thu hoạch cuối, những thửa ruộng “hẻo rằn” chín rộ đợi người người đi gặt. Gặt lúa hẻo phải dùng công cụ là cái lưỡi hái đặc biệt gọi là cái “Vằn gặt” đó là 1 đoạn ngọn tre già có 1 nhánh tre to tách hình chữ V, trên thân tre có gắn 1 lưới dao thép khứa hình răng cưa. Khi gặt, ngưới ta dùng móc kéo túm khóm lúa, sau đó dùng tay tóm gọn khóm lúa, tay kia lật ngược lưỡi hái gặt mạnh cho đứt lìa khóm lúa. Thật là 1 nghệ thuật gặt hái rất đặc trưng của vùng đất quê xưa... Trời chuyển động, chuẩn bị có giông bão, “Thâm Đông, hồng Tây, dựng may, ai ơi ở lại ba ngày hãy đi...”. Cái nóng nực cao độ và khó chịu của thời tiết trước một cơn bão ở Huế thật là khó tả, nóng nực gay gắt, trời khô hanh héo hắt, không khí dường như không có đủ để hít thở...Thế mà vào một buổi chiều khi ba tôi vừa gánh 1 triêng lúa hẻo rằn về quăng xuống cái sân gạch, mồ hôi mồ kê nhễ nhại...Bỗng ông nghe tiếng gọi ở nhà trên...Con.... hãy vô đây! Nhìn trên nhà trên, bên trong cái vòm cửa cuốn với nét hoa văn trang trí dây lá, sau khung cửa buồng khoa, cụ nội tôi đã bưng chén đậu hũ nước vẫy tay gọi người thanh niên nông dân gầy còm đang lấy tay gạt những giọt mồ hôi trên trán kia vào. Nhận lấy chén đậu hũ, ông rất mừng và ngồi bệt xuống đất để dùng nhưng ông nội tôi kéo ông ngồi vào chiếc ghế trường kỷ ngay gian giữa căn nhà rường chính 5 gian. Vinh dự cho một người con áp út là đầu tiên được ngồi cùng người cha già trên cái ghế trường kỷ bằng gỗ gụ đen bóng. Chiếc ghế này, chỉ khi có khách, có các ông anh con bà mệ chính như bác Nghè, bác Tham, bác Thị...mới được ngồi mà thôi. Uống xong bát đậu, cụ còn đưa thêm 1 bát dừa nạo sóng sánh trong cái chén mem lam xanh rồng ẩn trông rất mát ...và nói: “Bát dừa nạo ni là của dì mi (mẹ của ba tôi) mới đem vô hồi chiều, con dùng cho khỏe”. Uống vội bát nước dừa mà lòng rưng rưng...Ôi! cái tình cảm thiêng liêng vào lúc “cha già, con muộn”...là thế này sao?
         Vụ gặt chưa xong, lúa đang chất đống giữa sân gạch thì 2 ngày sau, mưa to gió lớn, thế là cái lụt 1953 cuốn hết cả sân lúa hẻo rằn trôi theo dòng nước to. Quả là “ông tha mà bà chẳng tha, chẳng qua cái lụt hai mươi ba tháng mưới...”, nhưng nay đang là tháng chín thội. Và mấy ngày sau thì cụ ông cũng mất khi qua tuổi 87. Lúc đó là thời chiến tranh, các con ông có về thăm, bác Nghè cũng chỉ về làng chẩn mạch thăm cha, nhưng 5 giờ chiều ba tôi phải chống ghe đưa ông anh Cả qua Bao Vinh vì nỗi sợ chiến tranh, rồi 7 giờ chống ghe về... Đến tối thì cụ ông mất, chỉ có 2 dì con là bà và ba tôi. Thời buổi chiến tranh, không thể đưa đám trong làng ra nghĩa địa được, gia đình đành phải tẩm liệm cụ ông trong cỗ quan tài “đặc biệt” và mai táng trong vườn trên gần nhà. Mãi 3 năm sau 1956, sau khi hòa bình lập lại, cụ mới được cải táng ra nghĩa địa của làng. Về cái cỗ áo quan “đặc biêt” mà cụ ông đã mai táng cũng đã có 1 câu chuyện kỳ lạ về cái cỗ áo quan này. Đây là cỗ áo quan gằng gỗ xạ hương có sơn son thếp vàng rất đẹp, nghe nói là đồ người Nam Hà dâng cho triều đình Huế làm đồ “ngự dụng” trong cung vua. Cỗ áo quan chung quanh có chạm lọng hình rồng và hoa văn, sơn son thếp đến 4 cây vàng ròng. Sau 1976, có người anh ở Sài gòn ra hỏi cỗ áo quan còn không để sưu tầm và mua lại (?) Chuyện kể rằng cỗ áo quan này là do thợ Nam Hà dâng cho vua Bảo Đại, nhưng do thời thế cuối trào vua quan cũng bị mang công mắc nợ nhiều ngoài dân nên đành phải gán nợ bằng cỗ áo quan tốt này cho Bà “Bộ Vĩnh”, ở cửa Đông Ba. Tương truyền, bà Bộ là một trong những “Phú gia địch quốc” thời đó: Chuyên làm nghề cho vay nặng lãi cho hoàng thân, quốc thích tiền để ...đánh bạc nên rất giàu. Giữ cỗ áo quan ngự dụng trong nhà, bà có đi coi bói gặp ông thầy bói phán rằng bà có số “Bất đắc kỳ tử: chết chỉ có chiếc chiếu bó mà chôn”....bà ta phì cười và không tin được vì vua chúa còn phải nợ bà mà? Thế mà thực tế trên một chuyến đi ra Hà Nội đi đòi nợ, bà bị cướp giết dọc đường ngoài Nghệ An, dân tình không biết bà là ai nên thương hại cho chiếc chiếu bó lại mà chôn thôi! Thế là chiếc áo quan đó được bác Tham tôi (con trai thứ 5 của cụ) mua lại và nói chỉ có cụ nhà lớn tuổi mới hưởng được cái cỗ quan này. Thế mà cái áo quan đó cũng chỉ mang thân xác cụ ông tôi 3 năm, sau đó cải táng ba tôi dùng trấu đốt 3 ngày mới cháy hết. Sau này nhiều người còn tiếc nuối món di vật “đặc biệt” đó mà tìm hỏi lại xem có còn không?..     
         Hồi xưa, giữa Hương Cần và Huế tuy gần nhưng cũng không có phương tiện gì di chuyển cho thuận tiện. Nhà ông nội tôi có sắm 1 chiếc xe kéo nhưng ông tôi khi ngồi lên cho người phu kéo thì cũng áy náy lắm, nên hầu như không mấy khi dùng, chỉ có mấy người con cụ bác Nghè, bác Tham, bác Thị... hay mấy Cô đi phố ...mới thỉnh thoảng phải dùng mà thôi...Vậy phương tiện tốt và êm ái nhất chính là ...đi thuyền nhỏ mà ở miền Trung và Huế gọi là ghe. Chiếc ghe được đan bằng tre cài theo liểu cài nan “lồng kép” rất chắc và chặt, dài độ 4, 5 mét rộng 0,8 m, có nẹp bằng tre ống, và có khoang mở rộng dùng để chứa lúa, hàng, cũng là chỗ ngồi...Sau khi hoàn thành, ghe được trát phân trâu với nhựa cây dành dành cho kín, sau đó phơi khô và trát lại 1 lớp dầu rái hoặc nhựa đường chống thấm nước. Cũng giống như bao phương tiện khác, chiếc ghe ở vùng đồng lúa trũng giữa 2 con sông Hương và sông Bồ quê tôi là cái phương tiện không nhà nào là không có.        Theo ký ức của ba tôi, có một chuyến đi ghe mà ông nhớ mãi và lúc cuối đời của ông nội tôi. Số là hồi những năm 1953, chiến tranh nổ ra, sự đi lại giữa Hương cần và Huế rất khó khăn. Mỗi lần cụ ông tôi cần đi phố (đi Huế) để thăm con, ông đều gọi ba tôi chở đi Huế bằng thuyền ghe. Mỗi lần đi phố, cụ ông đều gọi ba tôi dậy tử sớm, nấu cơm ăn sớm, rồi bới theo 1 mo cau cơm nắm. Chống ghe đi từ sớm trên con đường hói: đường mương nhỏ ngoằn ngoèo từ Hương Cần lên Bao Vinh, qua cống 3 cửa, vào ngược nước Sông Hương, về đỗ bến chùa Diệu Đế. Từ đó, cụ ông đi bộ che dù lên Ngự viên nơi có nhà của mấy bác Tham, bác Thị...để thăm con trai. Cứ mỗi lần có cụ ông lên thăm, quý ông con trai ở Huế đều tập trung đông đủ để hầu thăm cụ. Vậy người con áp út đã chèo ghe chống xuồng vượt 15 km đường sông hói lên đây đang làm gì? Ngồi giữ ghe, chẳng ích gì lắm nhưng nghe ở “Dinh” (Huế) có cỏ rất nhiều và tốt, rất ngon cho trâu ăn. Thế là từ trước ông đã mang theo liềm, đòn xóc, lạt tre ....để chuẩn bị đi cắt cỏ nuôi trâu. Từ cổng ngõ và sau bình phong chùa Diệu Đế: Ôi ngút ngàn cỏ ngon, rất tốt, xanh ngắt một màu và cỏ dài lợp cả thảm non...Thế là ông vội vội vàng vàng, hăng hái cắt gọn gàng...14 bó cỏ, thành 7 đôi triêng gánh bỏ xuống ghe chất đầy ngang nẹp. Sau đó mới giở mo cơm dùng vội bữa trưa. Đến chiều, cụ ông lại ra ghe, chịu khó ngồi trên đống cỏ để ba tôi chống ghe về nhà. Mừng vì đã có 14 bó cỏ ngon giúp đàn trâu nhà đỡ đói đến.... 4-5 ngày những lúc mùa mưa lạnh giá để đủ sức kéo cày vụ Đông.       Tuổi thơ của các cụ chỉ đọng lại những dấu ấn của tình phụ tử, còn lại là những mẫu chuyện lăn lộn mưu sinh. Bền chí trong 30 năm chiến tranh để cùng mẹ tôi nuôi nổi 11 người con. Đến bây giờ, kỷ niệm tươi đẹp nhất trong cuộc đời người nông dân miền Trung không chỉ có thế! Nhưng đó là dấu ấn hằn sâu trong ký ức nhất.
        Bên khung cửa sổ, dưới bầu trời xanh quê hương, nỗi niềm của người như lắng đọng trong lòng tôi bao nỗi xót xa, da diết....Bây giờ chúng ta sống không thiếu cái gì, nhu cầu rất nhiều, nhưng cái ước mơ, mong muốn có được những phút giây bình an, hạnh phúc bên người thân với bao nỗi niềm vì tha nhân có còn đâu nữa? Ôi papa, con mong người mang trong ký ức mình những niềm hạnh phúc nho nhỏ và bền vững mãi...
Hương cần, một chiều Thu 2015





Chủ Nhật, 25 tháng 10, 2015

Hoàng Kim Việt: Honda Super Cub tại Việt Nam

Hoàng Kim Việt: Honda Super Cub tại Việt Nam: Một thành công lớn nhất trong lịch sử công nghiệp cơ khí của Nhật Bản là chiếc xe 2 bánh được sản xuất bởi công ty Honda. Đánh dấu sự p...

HŨ RƯỢU RẮN LỤC

HŨ RƯỢU RẮN LỤC

Những năm 83-84 ở trường THPT Kon Tum, thị xã Kon tum cũ có nhận thêm nhiệm vụ nuôi dạy một số học sinh phổ thông dân tộc về nội trú tại trường. Để tiện việc nuôi dạy các em, Thị xã bàn giao cho trường thành lập khu cơ sở nội trú cho trường ở bên kia đường quốc lộ 14, ngay bên phải chân cầu Đăk Bla. Tôi còn nhớ đây là mấy dãy nhà cấp 4 là cơ sở của trường Trung học Nông Lâm Súc cũ trước 1975, nay đã hoang hóa nên trông rất quạnh hiu. Khi thành lập khu nội trú có 2 phòng học lớn dành chỗ cho hơn 40 học sinh dân tộc nội trú. Còn lại là 3 dãy nhà tiền chế 1 mái lợp fibro xi măng, thấp và nóng, làm chỗ nội trú cho giáo viên và nhân viên, bếp ăn tập thể v.v…Điểm nhấn đặc biệt của quang cảnh khu nhà nội trú này là có các khoảnh trống rộng rãi, nền cát pha rất sạch chứ không là đất đỏ ba dan như những khu dân tộc nội trú như ở trường Thanh niên dân tộc – Vừa học vừa làm Đăkto mà tôi từng dạy năm 78-79. Đặc biệt là khoảng dăm bảy cây Kơ Nia cao lớn, thân cứng như sắt, gân guốc với những cái bạnh vè đặc trưng của cây rừng mưa nhiệt đới, có lẽ chúng đã được “chúa rừng” để lại ngót nghét hằng trăm năm. Thế là, từ một trường phổ thông trung học chuyển sang một nửa là dân tộc nội trú, sự đan xen, hòa quyện giữa 2 loại hình này làm nẩy sinh nhiều vấn đề trong quản lý, nuôi dạy, làm kinh tế, sắm sửa cơ sở vật chất, ô tô…của trường.
Cũng từ đây, sinh ra nhiều câu chuyện thú vị, kỷ niệm một thời làm thầy giáo trên phố núi vùng cao của tôi và của nhiều thầy cô cùng trường những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước. Nối thế nghe rất xa xôi, nhưng quả thực, thời gian trôi qua rất nhanh, như bóng câu qua cửa sổ; hẵng quên thì thôi, nhưng nếu có ai đó chợt gợi lại, nhắc lại, lập tức như một cuốn phim ký ức được “retour lại”. Hình ảnh, kỷ niệm xưa cứ tự nhiên tràn về cuồn cuộn như dòng thác Yaly trên sông Đăkbla yêu dấu, không thể ngăn tràn được.

Trong vô vàn mẩu chuyện đó, tôi nhớ nhất là câu chuyện “uống thử rượu rắn lục” của anh em giáo viên trong khu nội trú trường cấp 3 Kon tum ở cầu Đăkbla. Thời đó, để tăng thu nhập cho trường và áp dụng cái gọi là giáo dục lao động cho học sinh. Năm nào giữa hai học kỳ 1 và 2 là có kỳ lao động tập trung 1 tuần. Năm đó (1984) trường nhận việc làm cỏ, phát hoang rừng để trồng cao su của sư đoàn 331 ở Đăk Hà. Trường có xe tải IFA dùng để chở HS nội trú và thầy cô. Còn học sinh phổ thông tự đạp xe đi lao động cách trường 12 km. Đường đi thì xấu, lại xa, đặc biệt đáng sợ nhất là cái dốc “Đầu lâu” có phanh …cũng tuột. Thầy trò chúng tôi hồi đó lao động rất miệt mài, khá khen cho học sinh phố núi vùng cao, đa số các em đều có dụng cụ tốt (rựa, cuốc), kỹ năng không phải xoàng…Sau bao nhiêu ngày lăn lộn công việc cũng dần xong. Rừng núi vẫn còn hoang sơ, rắn rít, bò cạp, lợn rừng, trút, nhím …vẫn còn. Đến ngày gần cuối đợt lao động, lớp thầy Danh dạy Hóa, chủ nhiệm 1 lớp học sinh dân tộc nội trú, bắt sống được nhiều rắn. Đó là loại rắn lục, thân hình dài thòng và có da màu xanh lục, trông rất ghê. Thầy Danh, với cái cơ sở “nấu rượu nuôi heo” của mình ở nội trú đã nhanh tay đem 1 con rắn lục bự cho vào 1 hũ rượu dầm ngay. Nghe nói là rắn độc thì ngâm rượu rất tốt. Bẵng đi 1 thời gian, trong 1 buổi chiều Thứ Bảy, sau tiết dạy cuối, nhiều thầy tụ tập ở nội trú tán gẫu và rủ nhậu lai rai. Rượu vào lời ra, bất chợt mọi người hỏi thầy Danh về cái hũ rượu…rắn lục có còn không? Các bạn nên nhớ đó là hồi 84, chứ chưa phải như bây giờ, chưa ai trong số anh em giáo viên biết uống rượu…rắn. Nhưng vì cái tính tò mò, cả nhóm về phòng thầy để xem. Nhìn cái hũ thủy tinh trong vắt, 1 chú rắn lục cuộn mình xanh biếc trong cái hũ, màu nước trong hũ cũng xanh lè, ai nhìn thấy cũng…lắc đầu le lưỡi. Hỏi ai có muốn thử không? Thầy Danh nói: “Tui ngâm rất kỹ, súc tắm con rắn hết nửa lít rượu nhứt, cho nó uống…rượu no nê, sạch sẽ rồi mới ngâm. Nhưng tui để 3 tháng rồi mà…hỏng dám uống!”. Mọi người dù đã có thần tửu Lưu Linh ngấm sơ sơ trong người rồi mà ai cũng lắc đầu ngao ngán. Nên nhớ là lúc đó ngoại trừ 1 số thầy cô có gia đình ở khu tập thể, đa số giáo vên trường cấp 3 Kon tum còn rất trẻ, độc thân, vui tính…và rất…yêu đời, không ai…muốn chết bởi vì cái hũ rượu rắn lục xanh lè kia. Gan cùng mình nhất là thầy Lợi (Địa) mà cũng ngán huống gì mấy thầy khác, thầy Lợi có gia đình và đã có vốn …2 con rồi. Chẳng đặng đừng, tôi bèn mạnh dạn…xung phong “khai hội”. Vốn dĩ là giáo viên trẻ, là thanh niên sôi nổi, nhưng khi mở cái nắp nylon khằn kín hũ rượu, rồi đưa mũi ngửi và khe khẽ…lắc đầu, hơn chục con mắt anh em nhìn như hỏi : “Thế nào?”. Tôi nói: “Thơm lắm! Có muốn uống thử không?” rồi rót ra 1 cốc nhỏ. Một lần nữa, mọi người lại cương quyết…lắc đầu. Than ôi! Đã lỡ “phóng lao thì phải theo lao”, tui phải đành nín thở uống cốc rượu vào…cái ực. “Thế nào?”, mọi con mắt lần nữa nhìn vào xem thử ông Thảo Địa (hay còn có nick là “Thổ địa”, “Thổ nhưỡng”…gì gì …đó theo cách đặt nick của lũ chỉ thua quỷ và ..ma, hic) có lăn quay ra giữa sàn nhà mà đi cấp cứu không? Câu trả lời hay nhất của mình lúc đó là gì đố các bạn còn nhơ không?.......Câu trả lời của mình lúc đó là : “Cho xin cốc nữa!”. Ha ha, sau “tam bôi xà tửu” thấy đương sự sảng khoái quá, một loáng sau, hũ rượu chỉ còn trơ…cái hũ. Một tuần sau, sau một buổi chiều lao động vệ sinh vất vả, nổi cơn ghiền, anh em ghé hỏi hỏi thầy Danh “Thế nào? Còn (hũ) không?” , và câu trả lời như các bạn có thể đoán ra là: Chỉ còn cái vỏ, dù đã 3 lần ngâm lại. Ha ha..
…Thời gian rồi dần qua, sau này thị xã thành lập trường học sinh dân tộc nội trú, trả lại môi trường phổ thông trung học cho đến bây giờ. Sau bao nhiêu năm đằng đẵng ấy, mà những kỷ niệm xưa, trên vùng cao phố núi Kon tum hai mùa mưa nắng ấy, vẫn không phai mờ trong ký ức tôi. Bây giờ trở lại Kon tum, thị xã nay đã trở thành thành phố, phố núi không còn cái nét hoang sơ, êm ả, dễ mến thương như ngày nào. Hàng cây Kơ nia “Bóng ngả che ngực em, về nhớ em không ngủ..” dạo nào ở khu nội trú chân cầu Đăbla nay không còn nữa. “Giọt nước” chỉ còn làn cái khoảnh vườn hoa tuy hoành tráng thế, nhưng đó chẳng phải là “giọt nguồn” hoang sơ nuôi sống bao con người mộc mạc của núi rừng. Không còn những sơn nữ ngực trần đi gùi ống bương, ống bầu đựng nước. Và trong chốn phồn hoa dô hội hôm nay, có những hũ rượu sâm “Ngọc Linh” trị giá hàng chục triệu đồng, có rất nhiều, rất nhiều những gì gọi là “sơn hào, hải dược”,  rượu “tam xà”, “ngũ xà”, “Long phụng hòa minh”…gì gì đi nữa, hay những chai rượu ngoại cực kỳ đắt giá…Tôi vẫn không quên cái “Hũ rượu rắn lục” nghĩa tình thuở nào, trong cái gian phòng tập thể nội trú nhỏ bé, đơn giản, với gia đình anh Danh - Gái, những bạn bè giáo viên một thuở yêu thương ở ngôi trương thung học phổ thông Kon Tum thân thương ấy./.
TNT56
Huế tháng 5/ 2015

(Viết để kỷ niệm “30 năm hội ngộ trường xưa” của tập thể học sinh khóa 82 – 85)

Thứ Sáu, 23 tháng 10, 2015

Hoàng Kim Việt: Xe Honda N360

Hoàng Kim Việt: Xe Honda N360: Vào cuối thập niên 1960, miền nam Việt Nam bước qua giai đoạn cơ giới hoá các phương tiện giao thông; một phần do nhu cầu đi lại của dân ...

Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2015

CÂY VỢT NHÔM

CÂY VỢT NHÔM

(Viết cho kỷ yếu Kỷ niệm 30 năm Hội ngộ trường xưa cựu HS trường THPT Kon tum 1985-2015)


          Kon tum mùa khô hanh những năm 1980, đó là bắt đầu của những tuần đầu của học kì 2 ở ngôi trường Trung học phổ thông cấp 3 phố núi. Trời khô hanh lay lắt, không khí như nín thở, chiều chiều, những mảnh tro tàn của một cánh rừng nào đó bị lửa đốt…bay xa và rơi vương vãi xuống khoảnh sân nhỏ bé, quanh co, trải đầy sỏi cát chen lẫn với những chiếc lá si, lá long não, phượng vỹ..vật vờ. Khoảnh sân trường nhỏ bé đó được che phủ gần hết 1/3 với cái bóng cây Si khổng lồ: “Có bác Si già, ôm lấy chú Bằng Lăng”. Gốc si đó không biết đã có tự bao giờ, khi chúng tôi về trường nhận việc, nó đã đứng đó: uy nghi, ngạo nghễ. Cứ buổi sớm, từng đàn chim chào mào “khổng tước” không biết từ rừng đại ngàn nào, bay về vần vũ kể cả hàng trăm con, chen nhau, ríu rít tranh ăn những chùm quả Si đỏ lừng, ngon ngọt. Thỉnh thoảng, một tiếng kẻng của bác Quý bảo vệ gióng lên báo giờ đổi tiết, chúng lại giật mình xao xác lảng đi….rồi lại quay trở lại, vấn vít trên tán lá của  ngọn cây vĩ đại của bác Si già, như đàn em học sinh ngây ngô dưới sân trường, quyến luyến với ngôi trường yêu dấu vậy.
      Một dạo, khoảng năm 1982 gì đó, lần đầu tiên, tôi ở lại ăn Tết ở tập thể trường cấp 3. Có lẽ không nỗi buồn nào bằng một kỳ ăn tết xa quê, nhưng dưới cội Si già, mấy anh em ngồi tán dóc, xoa tay, vung “triệt” những quân cờ Đô Mi Nô, tú - lơ - khơ…cũng phần nào xoa dịu nỗi buồn nhớ tết quê hương. Dưới cội Si già, chiều 30 tết, chúng tôi bày dọn một cỗ bàn đơn sơ trên chiếc bàn nhỏ, để cúng tất niên. Vật thực chẳng có gì, đôi cặp bánh chưng tự gói, mấy gói kẹo mậu dịch, dăm ba chén chè, đĩa xôi, vài nén nhang,…mà lòng thành lễ bạc.


    Một dấu ấn xa xôi lại về bên cội Si già đó, có lẽ thật khó mà quên được. Một buổi sáng tinh sương khoảng tháng 5- 1980, sáng lơ mơ ngủ dậy trong phòng nội trú bên cạnh văn phòng Đoàn, bỗng nhiên mình nghe những tiếng tinh tinh, tang tang..văng vẳng từ nơi đại ngàn rừng thăm, âm thanh kỳ lạ như từ cõi hư vô nào mà mình chưa từng nghe bao giờ. Dụi mắt, mở cửa bước ra nhìn thì thấy dưới cội Si già tập trung một nhóm các già làng, bô lão dân tộc đã ngồi tựa gốc Si từ bao giờ. Trên tay họ là mỗi người 1 cái cồng hoặc chiêng đủ loại. Âm thanh kỳ ảo chính là từ dàn nhạc cồng chiêng này phát ra. Bên những ống vố, bầu nước, với y phục cổ truyền, nét mặt bình thản như những khuôn mặt tượng gỗ nhà mồ…, họ tấu chiêng mà âm thanh đó len lỏi vào hồn người nghe như tiếng gọi hào hùng, pha nét bi ai của núi cao rừng thẳm. Cũng không biết tại sao, cổng trường ban đêm đóng lại mà họ lại vào tập trung ngồi lại quanh gốc Si già? Câu trả lời theo tôi suy nghĩ có lẽ gốc Si già trong sân trường mình thuở xưa là dấu tích xa xưa của ngôi làng cổ Kon Tum thuở nào chăng? Cả thị xã rộng lớn bao la, bao nhiêu là cây cao, bóng cả, thảm cỏ, quảng trường, cớ sao họ lại tụ hội về đây từ nửa đêm để đón chờ ngày Lễ? (Lúc đó, đang có lễ hội “Rước đuốc Bác Hồ” từ Bắc vô Nam). Dù gì đi nữa, sáng sớm mở mắt ra, nhì thấy cảnh tụ hội và nghe những âm thanh từ xa xôi đại ngàn sâu thẳm đó, trong tôi như có làn gió lạnh sởn óc chạy dọc sống lưng! Ôi, Kon Tum, đất cao nguyên cổ xưa của bao nhiêu truyền thuyết, huyền hoặc… lại trỗi dậy ùa về trong tôi như một cảm xúc lạ kỳ, không bút mực nào tả hết được….

          Hồi đó, tập thể giáo viên trẻ ở nội trú đa số chưa có gia đình, sống bên nhau trong nội trú của trường còn khăng khít hơn anh em ruột. Ngoài những giờ lên lớp, soạn bài, hay là những tiết sinh hoạt chủ nhiệm “tra tấn” học trò, anh em chỉ còn có việc đi chợ, thổi cơm, kho cá, nấu canh…như những bà nội trợ thực thụ. Một cái bếp nhỏ phía sau dãy nội trú, dưới bóng cây mít, vài chiếc bàn hỏng chỏng chơ…dăm cục gạch kê ông táo…Đó chính là “tài sản” dùng để nấu ăn, nuôi sống 3, 4 anh em chúng tôi. Mọi sự phân công đều rất khoa học và chính xác, bằng lối tư duy của những cái đầu “trí tuệ” của quý vị giáo sư tốt nghiệp từ trường đại học cơ đấy. Anh nào nhanh nhẹn, chịu đựng sự tò mò của “dư luận” .., thì lo đi chợ. À, mà phải có cái duyên buôn bán nữa đó, ban đầu thì đổi phiên, sau đó, cơ chế phân chia nó tự động hình thành. Thầy H., thầy T…lo đi chợ, thầy T. lo pha chế, nấu ăn, thầy N. lo “bia” phượng khô, làm chất đốt. Hít hà,… cứ như thế, mỗi lúc hết tiết 5, học sinh tan trường, thì cũng là lúc nồi cơm nấu xong, bắt đầu công cuộc “tra tấn” khứu giác học sinh với mùi phi hành mỡ thơm lừng…lan tỏa từ cái hiên bếp nhỏ bé phía sau văn phòng Đoàn thuở ấy. Bữa cơm đạm bạc, canh rau tập tàng, đĩa cá ngừ hấp kho trộn với dưa cải muối “Tân Xạ”, xoong cá mà cải nhiều gấp mấy lần cá…bên chén nước mắm, ít quả ớt hiểm….thế mà ngon không thể tả, nuôi sống và làm ấm lòng những cái dạ dày lép kẹp của những chàng trai “hay ăn, chậm lớn” này.
Đã có làm, có ăn, thì phải có …chơi. Thể thao chính là cái phao cứu sinh cho những buổi chiều rảnh rỗi. Cái sân bóng chuyền trước dãy nhà hội trường, một khoảnh sân cát với 2 cái cọc lưới bằng thân cây gỗ nguyên sơ với cái ống đạn cà nông bọc ngoài, mảnh lưới con con không đủ kích cỡ…lại là nguồn vui cho tập thể anh em giáo viên của trường. Không cần đội hình, không cần giày áo, cứ chân trần, với 1 quả bóng, trên cái sân cát đó, là đã có những “chầu” các độ uống cà phê, ăn phở “ông Quáng” sôi nổi rồi. Đội hình thì đủ cả các thể loại: 4-4, 3-3, 2-2, và cả solo 1 chọi 1…(Có lẽ bộ môn bóng chuyền bãi biển quốc tế bây giờ cũng còn kém xa độ hot  bấy giờ đấy chú!).
Đáng nể nhất là câu chuyện “cây vợt nhôm” của tôi xin kể ra đây. Số là hồi đó, ở Kon tum chưa có bộ môn đánh cầu lông cho học sinh. Tất nhiên trong kho học cụ, cũng chỉ có mấy cái khung vợt gỗ cầu lông lèn quèn, khung cong vênh, lưới đứt chỏng chơ… Để khôi phục “phong trào” đánh cầu lông, hôm tháng trước về nghỉ Tết ở Huế, tranh thủ mấy hôm rảnh rỗi, tôi bèn ra sức gia công làm 1 cặp “vợt nhôm”. Nên nhớ là lúc đó, 1 cái “láp xe độp” tức là cái lốp xe đạp, cũng phải chờ đăng ký, 3 năm mới được mua phân phối, xe đạp là đồ xa xỉ, thì cái vợt cầu lông tốt ở Huế và Kon tum: có thể nói là “không thấy bao giờ”. Khung nhôm được cưa từ mảnh nhôm ballet nhôm lót sân bay (tấm ri nhôm), sau đó uốn nắn theo kích cỡ 1 cái vợt cũ mua trước 1975. Khoan lỗ bằng khoan tay tự chế, và lưới đan là dây cước câu cá…Thế là đã hoàn chỉnh một “tác phẩm” công nghệ khá hoàn hảo: 2 cây vợt nhôm “made in Như Thảo”, bằng nguyên liệu USA đàng hoàng.
       Khi vào những tháng 3 “mùa con ong đi lấy mật”..Tây nguyên gió bụi mùa khô ngút ngàn, cũng là lúc khi đàn chim “chào mào” về tranh nhau quả ngọt của Cây si già, cũng là lúc chúng tôi “khai trương” phong trào “Badminton” trên đất Kon Tum. Sẵn cái sân bóng rổ cũ phía sau hội trường, kề bên cái giếng, lại được bao bọc 3 phía bởi tường nhà và tường rào phía Thị đội, đây chính là địa điểm lý tưởng để kẻ vẻ kích thước cho cái sân “vũ cầu” của chúng tôi. Và thế là, sáng chủ nhật, hay vào các buổi chiều khi mặt trời tắt nắng, phong trào đánh vũ cầu trong sân sau của Hội trường luôn râm ran, sôi nổi. Mạnh nhất có lẽ là thầy V.Quang, cây tennis – giáo viên thể dục, đội lão tướng “anh hùng cái thế” lại là thầy Quáng nhà mình. Còn lại thì anh em cứ …sàn sàn…, vừa đủ “câu độ” cho vui cửa vui nhà. Nuôi nhau bằng “xôi mậu dịch”, “cà phê Da Vàng”, tươi hơn thì một chầu “phở bò kho” ông Quáng, hay tô bún ông “Tàu dơ”, hay là một bữa đại tiệc “bò viên” của ông “Tàu la”, với vài cốc rượu đế lai rai…. Đời đơn giản, thế mà vui! Thế rồi, tiếng lành đồn xa, mấy anh em ở phường Quyết Thắng như anh ..Minh…cũng cùng vào góp vui, sau này, nhờ các chuyến xe buýt Sài Gòn – Kon Tum, anh em có điều kiện mua về nhiều cặp vợt nhôm của Liên Xô, của nước ngoài rất đẹp…
-Bên cổng trường năm 1985- GV và HS ban văn nghệ THPT Kon Tum

            Thời gian qua mau, mới đó mà đã trải qua hơn 30 mùa Xuân trở lại. Bây giờ với một đô thị thành phố phát triển, nhiều sân chơi như sân tennis, nhiều nhà thi đấu của thành phố hiện đại, nhiều cây vợt “xịn” giá hàng trăm USD…nhưng trong ký ức của tôi, “cây vợt nhôm” tự chế đã làm nên công việc “tái khởi động” phong trào chơi cầu lông, môn thể thao bao năm bị “ru ngủ’ nay đã “hồi sinh” lại ở phố núi và trường xưa, luôn luôn là một kỉ niệm đẹp trong tôi, không bao giờ quên được.
Trường cũ, sân trường xưa với những bục “ghế đá” thô sơ, cái giếng, Cây Si già “ôm lấy chú Bằng lăng”, và nhất là khoảnh sân vũ cầu xưa sau dãy hội trường, “cây vợt nhôm” ….đã đi vào dĩ vãng, minh chứng cho một thời “sống để thương nhau” trong môi trường anh em sư phạm trường cũ của tôi: Trường Trung học phổ thông Kon Tum.
TNT56

Kỷ niệm “30 năm hội ngộ trường xưa”

GỎI LÁ KON TUM ĐỘC ĐÁO PHỐ NÚI

GỎI LÁ KON TUM.
Về thăm lại Kon Tum 2015

          Nếu một lần đến phố núi nằm ở cực bắc Tây nguyên (Kontum), mời bạn cùng cư dân vùng sơn cước thưởng thức món gỏi lá đặc sản Tây Nguyên. Gỏi lá được chọn từ hơn 40 loại lá khác nhau, nhiều loại rất quen thuộc nhưng cũng có những loại phải tìm kiếm từ rừng Tây Nguyên mới có.

Xếp một "rừng" lá, vị chủ nhà bắt đầu giới thiệu cho du khách từng loại lá khác nhau như lá lộc vừng, sâm đất, hồng ngọc, mơ, cải cay, ổi, đinh lăng, sung, lá lốt, trâm, mã đề, diếp cá, chó đẻ răng cưa, quế, húng, thuyền đất… Mỗi loại có một tác dụng chữa bệnh khác nhau. Lấy các loại lá này cuốn thành hình phễu để gắp vào đó các loại thức ăn. Các món ăn kèm với lá như thịt heo ba chỉ, tôm rang, da heo thái mỏng trộn cùng bột gạo nếp rang.
Nước chấm được làm từ bỗng rượu, được khử qua dầu ăn, lẫn cùng trứng vịt thành loại nước chấm sền sệt. Tiêu để nguyên cả hạt, muối hạt, ớt cay xanh, hành lá… là những gia vị không thể thiếu. Kẹp đủ các loại lá, bỏ vào đó thịt, tôm, da heo, gia vị rồi ăn cùng một lúc, nhai càng kỹ càng dễ nhận ra nhiều hương vị vừa có vị chan chát, vừa ngòn ngọt, chua chua và vừa bùi béo ngậy của thịt, tôm.

- Món Gỏi lá Kon Tum
         Sau mỗi lần ăn, làm thêm một ngụm rượu được ngâm lâu ngày từ rễ cây đinh lăng. Cuối cùng là một nồi cháo cá lóc, nóng hổi để ăn lót bụng là tuyệt nhất. Theo nhiều người dân phố núi, ăn gỏi lá nhiều rất tốt, bởi hầu hết đều là những lá cây thuốc nam có tác dụng chữa bệnh. Người mắc các chứng bệnh về tim mạch, đường tiêu hóa … ăn vào có thể chữa bệnh.
- Uống rượu sâm Ngọc Linh với gỏi lá mới sành điệu...

           Gỏi lá hình như độc nhất chỉ có ở thành phố Kon Tum, và cũng chỉ có ở Kon Tum ăn gỏi lá mới ngon, nơi khác có lá chắc gì đã có gỏi lá? Tương truyền cách đây độ 5-6 năm gì đó, khi đời sống mới đi lên nhưng chưa đủ khá khẩm. Một hôm ông chủ quán phải tiếp 1 nhóm bạn về thăm lại chiến trường xưa Kon Tum...Nhưng vì "…vườn rộng, rào thưa khó đuổi gà..ao sâu nước cả không chài cá...", nên ông bèn ra vườn sau kiếm ít rau ăn dặm với thịt 3 rọi (3 chỉ), nhưng vườn rau rộng và nhiều loại quá, lại ở cao nguyên khí hậu tốt lành nên có nhiều loại rau ngon không bỏ được...nên đành vơ về cả đống. Về nhà, thịt thì ít, nên rang thêm ít con tôm đất, đổ thêm nước lèo pha trứng, dăm bảy hạt tiêu, tý da heo luộc tẩm thính gạo nếp...rồi nhón tất cả cho vào 1 cái phễu lá rồi gói các món lá nào mà mình thích ...Vậy là thành món gỏi lá Kon Tum "Danh bất hư truyền"...

- Chọn mỗi lá 1 ít, nhón phụ gia để dùng...          
          Cảm nhận riêng của tôi: Đã 2 lần ăn gỏi lá Kon tum: Lần thứ nhất năm 2013, khi về lại Kon tum dự kỷ niệm 30 năm ngày HS khóa 1983 ra trường, đã cùng thử món gỏi lá , lúc đó, được dùng gỏi lá với rượu sâm Ngọc Linh, trong tiết trời cuối mùa mưa tháng 9 còn heo may...Hương vị của lá rừng như vị sống đại ngàn lan tỏa rất lạ. Trong không khí chan hòa tình cảm của thầy trò sau hơn 30 năm gặp lại. Lần thứ 2, tháng 7/2015, về lại Kon tum trong dịp Lễ kỷ niệm "30 năm Hội Ngộ Trường xưa" của Cựu HS PTTH Kon Tum 1982-1985, nhân 1 buổi chiều thứ 7 sau dịp lễ, khi ghé thăm nhà của HS cũ, đúng gần nơi có gỏi lá...Thế là lại được nhâm nhi mốn gỏi lá độc đáo này và giới thiệu cho bạn cũ cùng thưởng thức....Cái vị cay, chát, chua, đắng, ngát...không thể diễn tả được của núi rừng Tây nguyên chen lẫn trong cái tình cảm của bằng hữu một thời gian khó cùng dạy học miền núi những năm 80, cũng như hơi ấm của tình cảm thầy trò sau hơn 30 năm gặp gỡ...


Ôi, đất Tây Nguyên, với phố núi nhỏ bé, với hương vị của đại ngàn, với bao kỷ niệm như gói trọn trong món gỏi lá nầy...

(Viết về 1 kỷ niệm đẹp nhân 30 năm ghé lại trường xưa Cấp 3 Kon Tum...)